Giới thiệu

1. Địa lý

Xã Lê Hồ cách Hà Nội khoảng 60 km nằm ở phía Tây Bắc của huyện Kim Bảng. Phía Đông giáp xã Đại Cương, xã Đồng Hoá, phía Tây giáp xã Tượng Lĩnh, phía Nam giáp xã Tân Sơn, phía Bắc giáp xã Nguyễn Uý và xã Đại Cường (Hà Tây cũ nay là Hà Nội). Nằm trên quốc lộ 60B nên xã có vị trí giao thông rất quan trọng.

2. Hành chính

Xã có diện tích 7,35 km2, chiều dài 3,5 km, chiều rộng 2,5 km. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, toàn xã có hơn 3.000 người. Đến tháng 12/2005 xã có 8.182 người. Đến năm 2010, có 8.276 người. Diện tích canh tác của xã là 521,95 ha Đơn vị hành chính bao gồm năm thôn: Phương Thượng, Phương Đàn, An Đông, Đồng Thái, Đại Phú.

3. Giao thông

Xã Lê Hồ cách quốc lộ 1A khoảng 7 km về phía Tây. Có 4 km quốc lộ 38 chạy qua địa bàn xã, đường làng, đường xóm đều được bê tông hoá, đường ra đồng đều được mở rộng và rải đá cấp phối.

4. Lịch sử văn hóa

Lê Hồ là là cơ sở vững mạnh trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ; Lê Hồ - người đảng viên cộng sản đầu tiên của quê hương đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Theo ghi chép tại gia phả của một số dòng họ, thần phả còn lưu giữ được ở đình Phương Thượng; đặc bịêt là những hiện vật tìm được tại ngôi mộ cổ ở gò Nấm giữa địa giới giữa 2 xã Lê Hồ và xã Đồng Hoá năm 1987, thì các địa danh thuộc xã Lê Hồ ngày nay đã có trước đây 2000 năm lịch sử. Từ xa xưa, nơi đây có sông Đường Giang bắt nguồn từ vực chùa Ông (nay thuộc xã Tượng Lĩnh) chảy dọc qua địa bàn xã xuống tận Vân Chu (xã Phù Vân) rồi đổ ra sông Đáy. Hai bên triền sông, cỏ cây rậm rạp, um tùm, mọc thành những vệt rừng hoang vu.

Cùng với dòng chảy của lịch sử, tên đất, tên làng của Lê Hồ cũng có sự thay đổi. Từ thời vua Hùng, các địa danh thuộc xã Lê Hồ ngày nay nằm trong quận Vũ Bình, thuộc bộ Giao Chỉ. Thời thuộc huyện Cổ Bảng. Thời nhà Đinh nơi đây là một căn cứ dẹp loạn 12 sứ quân của Đinh Bộ Lĩnh. Đến thời Hậu Lê (1420 -1527) thuộc huyện Kim Bảng. Đến năm 1466, thuộc Sơn Nam Thừa tuyên. Thời Tây Sơn, thuộc Sơn Nam Thượng. Năm 1831, thuộc Kim Bảng, tỉnh Hà Nội. Từ năm 1890, là một trong các địa danh thuộc tỉnh Hà Nam. Xa xưa, các địa danh thuộc xã Lê Hồ lúc đầu chỉ là một xóm nhỏ có tên là Đường Giang, sau bao thế kỷ phát triển thành những làng quê trù phú, đông đúc. Năm 1472, dưới triều vua Lê Thánh Tông, tên Đường Giang đổi thành Hương Đàn xã.

Khi Pháp sang xâm lược Việt Nam, chúng sáp nhập Hương Đàn với một số làng khác gọi là tổng Phương Đàn gồm các xã: Phương Đàn, Phương Thượng, An Đông, Cao Mật, Khang Thái, Tùng Quang, Dương Cương, Thịnh Đại, Nông Vụ, Lạc Nhuế. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, để tưởng nhớ và tỏ lòng biết ơn đồng chí Lê Hồ - người con ưu tú có nhiều cống hiến đóng góp cho phong trào cách mạng của quê hương, các xã nhỏ thuộc tổng Phương Đàn vinh dự mang tên xã Lê Hồ. Năm 1951, các thôn Tùng Quang, Dương Cương, Thịnh Đại, Nông Vụ cắt về xã Đồng Hoá. Năm 1956, sáp nhập thôn Đaị Phú (xã Thụy Lôi) về xã Lê Hồ năm 1960. Ngày nay, xã Lê Hồ gồm 5 thôn: Phương Đàn, Phương Thượng, An Đông, Đồng Thái (năm 1960 Khang Thái và Cao Mật sát nhập thành thôn Đồng Thái) và Đại Phú

Tên xã được lấy từ tên chiến sĩ cộng sản Lê Hồ - một người được sinh ra tại đây.

5. Kinh tế xã hội

Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển văn hoá, xã hội theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn (2006 – 2010). Năm 2014 xã Lê Hồ được công nhận là xã đã đạt" Xã đạt chuẩn nông thôn mới".

6. Đình Phương Thượng, Cao Mật

  • * Đình Phương Thượng thuộc xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. Đình nằm trên một mảnh đất cổ - một mảnh đất địa linh nhân kiệt, có truyền thống yêu nước từ ngàn đời nay. Đình Phương Thượng thờ ông Nguyễn Phúc Tính, một vị tướng tài ba dũng cảm, đã cầm quân phò Hai Bà Trưng đánh giặc.
  • Trong cuốn “ Thần Phả” đình Phương Thượng có ghi lại: vị tướng tên là Nguyễn Phúc Tính sinh ngày 6 tháng giêng năm Tân Dậu ( năm 10 tr. CN); Hóa ngày 10 tháng 11 năm Quý Mão ( năm 43 sau CN). Thân phụ là Nguyễn Công, thân mẫu là Trương Thị Tần; quê ở bộ Võ Ninh quận Cửu Chân . Tục truyền, ông là con cầu tự ở núi Thiên Kiện vì vậy ngày nay trong đình Phương Thượng vẫn còn một bức Đại tự đề “ Thiên Kiện giáng thần” tức là vị thần giáng sinh từ núi Thiên Kiện.
  • Năm 15 tuổi, Phúc Tính theo sư thầy trên núi học đạo, học võ và trở thành một con người văn võ song toàn. Năm 19 tuổi, Phúc Tính đến nhà cậu ruột là Trương Công Hành, hiệu là Thi Sách – làm quan Phủ Doãn Phủ Lý Nhân, là chồng của bà Trưng Trắc – để học thêm văn võ. Nhưng chẳng bao lâu, Thi Sách bị tướng nhà Hán là Tô Định ám hại, Nguyễn Phúc Tính phải tìm đường lánh nạn. Ông mang mối thù nhà, nợ nước ra đi đến Trang Đường Giang ( thuộc xã Lê Hồ, Kim Bảng ngày nay). Thấy nơi đây phong cảnh đẹp, dân cư thuần hậu, ông quyết định ở lại mở trường dạy học ( vị trí tại trường Tiểu học A Lê Hồ bây giờ ). Ông dạy dân cách làm ruộng , chăm tằm, đồng thời chiêu tập binh sĩ, tập luyện võ nghệ chờ thời cơ khởi nghĩa.
  • Mùa xuân năm Canh Tý, vì nợ nước thù nhà, Hai Bà Trưng khởi binh đánh giặc. Nguyễn Phúc Tính cầm quân tràn về Phong Châu cùng Bà Trưng đánh giặc cứu nước. Phúc Tính được phong chức “ Tham tán trung quân”. Dưới cờ khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, quân ta với lòng căm thù giặc sâu sắc đã nhất tề nổi dậy đánh bại quân Hán. Trưng Trắc lên ngôi xưng là Trưng Vương, Nguyễn Phúc Tính được phong Đại Vương.
  • Sau đó Nguyễn Phúc Tính về Võ Ninh tế cậu, yết kiến tổ đường rồi ông trở lại Đường Giang mở tiệc ăn mừng ( 15/8/40). Ông ở lại Đường Giang dạy học, chăm sóc nhân dân, dạy dân cấy lúa, chăm tằm, dệt vải…
  • Ba năm sau, nhà Hán sai Mã Viện tiếp tục đem quân sang xâm lấn nước ta, Trưng Vương cùng Phúc Tính Đại Vương đem quân kháng cự nhưng thế giặc mạnh, quân ta phải rút lui về vùng Hát Giang, Cẩm Khê phòng thủ. Giặc bao vây bốn phía, cùng đường, Hai Bà Trưng phải nhảy xuống sông Hát tự vẫn để khỏi rơi vào tay giặc. Phúc Tính Đại Vương đã phá vòng vây chạy về Đường Giang, nhưng ông bị trọng thương, về đến đầu làng thì chết. Đó là ngày 10 tháng 11 năm Quý Mão ( năm 43 sau.CN).
  • Truyền thuyết ở địa phương còn kể rằng: Phúc Tính Đại Vương bị trọng thương đầu sắp rời khỏi cổ nhưng một tay giữ đầu vẫn phóng ngựa về làng. Đến gò Voi Phục thì yên nghỉ vĩnh viễn tại đây. Sau khi ông mất, nhân dân Đường Giang lập đền thờ ông để bốn mùa hương khói, tưởng niệm người có công dạy chữ, chữa bệnh và dạy dân việc nông tang; tưởng niệm một vị anh hùng có công đánh đuổi quân xâm lược Hán giành độc lập cho dân tộc.
  • Nhân dân địa phương thờ ông Phúc Tính như một vị Thành Hoàng.
  • Đình Phương Thượng, xã Lê Hồ, huyện Kim Bảng tỉnh Hà Nam là công trình văn hóa nghệ thuật lớn bao gồm các tòa tiền đường, trung đường, chính tẩm, phía ngoài có hai dãy giải vũ ở phía Đông và phía Tây đình, ngoài cùng có cột trụ cổng chính và cổng phụ hai bên. Phía trước đình có cây cổ thụ cùng hồ nước trong mát tạo cảnh quan hấp dẫn cho công trình kiến trúc. Hai cột trụ ở trước sân đình có đôi câu đối:                                     “Thiên thu bất dãn, phù Trưng liệt                                        Vạn cổ do tồn, kháng Hán uy”                         ( Muôn thuở không mòn, công nghiệp phò Trưng oanh liệt                             Ngàn thu còn mãi, oai phong chống Hán anh hùng)
  • Câu đối như nhắc nhở với mọi người, đây là di tích thờ tướng phò Hai Bà Trưng đánh đuổi giặc Hán xâm lược từ thế kỷ
  • Tòa tiền đường cao to đứng sừng sững gồm 5 gian, dài tới 19m60, rộng 9m40. Trong tòa tiền đường có những cột lim lớn đường kính tới 40cm,những hàng xà vừa to vừa dài được chạm khắc hết sức công phu
  • Sát với tòa tiền đường là tòa trung đường. Tòa trung đường cũng to cao không kém tòa tiền đường. Các hàng cột cái, cột quân, các hàng câu đẩu, hàng xà, trụ…đều cho thấy nghệ thuật chạm khắc tinh xảo, sinh động.
  • Bên trong tòa trung đường là tòa hậu cung thờ bài vị của Phúc Tính Đại Vương. Công trình có hai gian dọc. Mặt tiền hậu cung được thiết kế công phu, thể hiện sự trang trọng của di tích nên từ các ván bưng, các hàng xà, các mảng mê nách được đục chạm hình ảnh lưỡng long chầu nguyệt rất uy nghi, họa tiết phượng múa rất sinh động, hình ảnh các con ly ngộ nghĩnh, các con rùa ẩn hiện dưới ao sen cho thấy sự điêu luyện của các nghệ nhân xưa.
  • Ngoài ba công trình tiền đường, trung đường, hậu cung còn có hai giải vũ ở phía Đông và phía Tây, mỗi dãy có 5 gian cùng với hệ thống trụ cột đằng trước tạo thuận tiện cho việc chiêu bái của con cháu trong làng và khách thập phương.
  • Đình Phương Thượng gồm tất cả 22 gian, quy cách công trình đồ sộ, phải cần đến một khối lượng gỗ lim, gạch ngói cổ rất lớn để hoàn thành. Đây cũng là công trình thể hiện tài năng kiến trúc của nhân dân ta.
  • Ngoài ra, đình Phương Thượng còn giữ gìn được những đồ thờ có giá trị nghệ thuật. Những đồ thờ được chạm khắc, trang trí hết sức công phu, tinh xảo. Những hàng câu đối, bức đại tự thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của hậu duệ đối với vị anh hùng của dân tộc, vị thần linh của làng.
  • Đình được trùng tu nhiều lần qua các thời đại vua chúa thời kì phong kiến, là một di tích lịch sử VH – NT được cấp bằng di tích lịch sử quốc gia. Đền thờ vị anh hùng Phúc Tính Đại Vương, người có công cùng Hai Bà Trưng đánh đuổi nhà Hán giành độc lập cho dân tộc. Đối với nhân dân địa phương, ông cồn là một người tâm huyết chữa bệnh cho nhân dân, dạy dân học chữ, giúp dân trong việc đồng áng. Bởi vậy mà xã Lê Hồ có bề dày lịch sử văn hóa lâu đời, có truyền thống hiếu học, truyền thống yêu nước.
  • Ngày nay lớp lớp con cháu vẫn luôn phát huy truyền thống cha ông, giữ gìn những phong tục tập quán tốt đẹp của quê hương. Biêt ơn vị Thành Hoàng làng, người dân địa   phương truyền nhau những câu thơ giản dị :              “Ông Phúc Tính dạy dân học chữ               Dạy chăm tằm dệt lụa bao năm               Dưới cờ khởi nghĩa Bà Trưng               Đại Vương đánh giặc lẫy lừng chiến công               Nay chữ vàng lung linh di tích               Mái đình xưa mãi ngát hương thơm               Bước theo truyền thống cha ông              Ngày nay ta được sáng danh anh hùng”.
  • Trải qua bao thăng trầm của thời gian, đình làng Phương Thượng vẫn còn khá nguyên vẹn. Nó vẫn mang một dáng vóc thâm trầm và linh thiêng vốn có. Con cháu dù đi xa vẫn nhớ về đình làng như hồn quê rất đỗi gần gũi , thân thuộc mà thiêng liêng.
  • * Đình Cao Mật là di tích lịch sử văn hóa lâu đời trên địa bàn xã Lê Hồ. Đình là nơi thờ danh tướng Phạm Hạp, có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp yên thập nhị sứ quân. Khi đất nước thanh bình, ngài xin về lập ấp ở xã Cao Mật, được hưởng lộc từ số thuế thu được ở huyện Kim Bảng.
  • Làng Cao Mật có đền thờ nhân thần Phạm Hạp, sinh ngày 20 tháng 7, hoá ngày 30 tháng chạp. Quê ở xã Cát Lợi, tỉnh Bắc Ninh, có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp yên thập nhị sứ quân (12 sứ quân). Khi đất nước thanh bình, ngài xin về lập ấp ở xã Cao Mật, được hưởng lộc từ số thuế thu được ở huyện Kim Bảng. Sau khi ngài qua đời, nhân dân thương tiếc lập đền thờ. Khi Trần Nhân Tông đi đánh giặc Nguyên, qua đền thờ Phạm Hạp, vào làm lễ cầu đảo, được âm phù thắng trận. Thắng trận trở về, nhà vua phong cho Ngài 6 chữ Linh ứng bảo quốc cư sĩ. Vua Lê Thái Tổ phong 6 chữ Tô đàm Đại liêu Hồng ân. Năm 1880, vua Tự Đức chuẩn cho dân làng thờ cúng như cũ. Ngài được ban sắc phong của các triều vua Tự Đức năm 1853, Đồng Khánh năm 1887, Duy Tân năm 1909, Khải Định năm 1924. Dân làng có lệ kiêng huý chữ Hạp, hàng năm dân làng tổ chức tế lễ vào các ngày sinh và ngày hoá của ngài.

7. Các danh hiệu được phong tặng

Thành tích khen thưởng trong 75 năm 1930 - 2010

  • 1. Tập thể: 7 Bằng có công với nước, Trong đó: Có 2 thôn Cao Mật và Khang Thái; 3 Huân chương kháng chiến; 3 Huân chương lao động; 3 Bằng khen của Hội đồng Chính phủ.
  • 2. Cá nhân: 820 Huân, huy chương, Bằng khen; 7 gia đình được tặng Bằng có công với nước.

Lịch sử hình thành xã Lê Hồ

26/02/2019 17:38
Đang cập nhật...

Vị trí địa lý xã Lê Hồ

26/02/2019 17:38
Đang cập nhật...
Hiển thị #
Trang 1 of 1 (2 items)
Gửi bài viết của bạn